Bùi Văn Có - trường THCS An Vĩnh - Lý Sơn Quảng Ngãi - xin kính chào
nhà toán học Abel
Nh
ững vinh quang sau khi đã qua đờ
i
Ở
châu Âu đến thế kỉ 16, khoa học tự nhiên đã phát triển rấ
t nhanh
chóng. Truy
ền thuyết tôn giáo cho rằng, thượng đế sinh ra thế giớ
i và
trái
đất có hình vuông. Những phát kiến về địa lý củ
a Christophe
Columb (1451-20.5.1506), Fernand de Magellan (1480-1521) và nh
ữ
ng
ng
ười khác đã chứng minh đầy đủ rằng, trái đất có hình cầu, đ
ó là
đ
iều không thể chối cãi đượ
c.
Phát minh v
ề vật lý của G.Galilei đã đem lại cho nhân loại những nhậ
n
th
ức mới về vũ trụ. Toán học được suy tôn là „nữ hoàng“ của khoa học t
ự
nhiên. T
ừ thế kỉ 16 đến thế kỉ 18, đã xuất hiện hàng loạt nhà toán học kiệ
t
xu
ất, họ đã đưa nền toán học lên một đỉnh cao mới. Sự xuất hiện phươ
ng
pháp to
ạ độ, ứng dụng của số phức, sáng tạo ra vi-tích phân, ... đã kết hợ
p
nghiên c
ứu thế giới khách quan trong trạng thái tĩnh và động. Vào thời gian đó, cả châu Âu đã b
ỏ
l
ại đằng sau sự trì trệ của thời trung cổ. Trong tiến trình phát triển đó, toán học luôn đ
i tiên
phong.
Nh
ưng ở nhánh phương trình đại số thì tình hình lại không như vậy. Do cuộc thách đố chấn độ
ng
c
ả giới toán học vào đầu thế kỉ 16, người ta đã tìm ra được cách giải phương trình bậ
c 3 và 4.
T
ừ giữa thế kỉ 16 trở đi, người ta người ta bắt đầu đi nghiên cứu sâu phương trình bậ
c 5. Các
nhà toán h
ọc đã phân tích tỉ mỉ cách giải phương trình từ bậc 2 đến bậc 4. Nếu một phươ
ng trình
có nghi
ệm viết được bằng công thức đại số của các hệ số thì được gọi là phương trình giải đượ
c
b
ằng căn thức. Trước thời R. Bombelli và F.Viete người ta đã xác định được công thức tổ
ng quát
để
tính nghiệm của phương trình từ bậc 1 đến bậ
c 4.
Không bao lâu, sau khi gi
ải được phương trình bậc 3 thì phương trình bậc 4 tổng quát cũ
ng có
cách gi
ải đại số. Việc giải phương trình bậc 4 tổng quát quy về việc giải phương trình bậ
c 3 liên
k
ế
t.
N
ăm 1540 Zuanne de Tonini da Coi người Italia đã đề nghị G. Cardano giải bài toán dẫn đế
n
ph
ương trình bậc 4 nhưng G. Cardano không giải được và sau đó G. Cardano đã công bố
cách
gi
ải này trong cuốn „ Ars magna“ củ
a ông.
Cách gi
ải của L.Ferrari viết gọn theo cách ký hiệu hiện nay như sau. Biến đổi đơn giản sẽ
quy
m
ột phương trình bậc 4 chính tắc ( đầy đủ) về dạ
ng x (1)
T
ừ (1) biến đổi được x^4+2px^2+p^2=px^2-qx-r+p^2 (2) hoặ
c (x^2+p)^2=px^2-qx+p^2-r (3)
V
ới y bất kỳ, từ
(3) ta có (x^2+p+y)^2=px^2-qx+p^2-r+2y(x^2+p)+y^2
=(p+2y)x^2-qx+(p^2-r+2py+y^2) (4)
Bây gi
ờ ta chọn y để vế phải của (4) là một bình phương. Đây là trường hợ
p khi 4(p + 2y) (p – r –
2py +y^2) – q = 0 (5)
Ph
ương trình (5) là phương trình bậc 3 của y đã có cách giải. Một giá trị của y như vậy sẽ
quy
ph
ương trình bậc 4 lúc đầu về việc chỉ phải lấy các căn bậ
c 2.
M
ột cách khác bằng đại số giải phương trình bậc 4 được F. Viete đề xuất một cách nữa, đượ
c R.
Descartes
đưa ra năm 1637 nhưng trong nhiều sách giáo khoa đại học đã có thì cách giải củ
a F.
Viete c
ũng giống như cách giải củ
a L. Ferrari.
Niels Henrik Abel
Nhà toán h
ọc Vanmec người Tây Ban Nha cũng đã giải được phương trình bậc 4 nhưng tên bạ
o
chúa Tuocmacvada
đã thiêu chết ông, vì theo hắn ông đã làm trái ý trời : phương trình bậ
c 4
không h
ợp với khả năng của người trần tục – đó là ý muốn của trờ
i !
Vì vi
ệc giải phương trình bậc 4 tổng quát được thực hiện tuỳ thuộc vào việc giải một phươ
ng
trình b
ậc 3 liên kết, nên năm 1750 L. Euler đã cố gắng làm điều tương tự là quy việc giải phươ
ng
trình b
ậc 5 tổng quát về phép giải phương trình bậc 4 liên kết nhưng đã thất bạ
i.
R
ất nhiều nhà toán học cũng đã vắt óc tìm kiếm cách giải phương trình bậc 5 nhưng không đ
i
đế
n kết quả. Trước tình hình đó, người ta bắt đầu hoài nghi là liệu có tồn tại hay không mộ
t công
th
ức tính nghiệm của phương trình bậc 5 tổ
ng quát !
N
ăm 1778, nhà toán học J.L. Lagrange đã mở được đầu mối quan trọng. Ông đã tậ
p trung tìm
ki
ếm công thức chung để giải các phương trình từ bậc 2 đến bậc 4 vì ông cho rằng , nế
u tìm
đượ
c công thức chung đó thì sẽ suy luận để tìm được cách giải phương trình bậc 5. Nhưng cuố
i
cùng ông
đã phát hiện thấy nghiệm của một phương trình đã biết có thể được biểu thị bằng mộ
t
hàm s
ố đối xứng của một phương trình hỗ trợ khác. Phương trình hỗ trợ này được ông gọ
i là
cách gi
ải dự kiến. Dùng cách giải dự kiến này, ông đã sử dụng để giải được phương trình bậ
c 3,
b
ậc 4 nhưng đến phương trình bậc 5 thì ông đành chịu. Một tia sáng lại loé lên trong đầ
u ông :
Công th
ức như vậy không thể tồn tại được, nhưng ông lại không chứng minh được điề
u này.
Ph
ương pháp tổng quát biến đổi một phương trình đa thức bậc n đối với x thành một phươ
ng
trình b
ậc n đối với y, trong đó các hệ số của yn-1 , yn-2 đều bằng 0 đượ
c E.W von Tschirnhausan
(1651-1708)
đưa ra. Về sau phép biến đổi phương trình bậ
Bùi Văn Có @ 08:25 16/07/2012
Số lượt xem: 364



Các ý kiến mới nhất